Hiển thị các bài đăng có nhãn tu-sau-cmt8-den-1954. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tu-sau-cmt8-den-1954. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014

Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm vợ chồng A Phủ qua cuộc đời Mị và A Phủ

PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO CỦA TÁC PHẨM VỢ CHỒNG A PHỦ QUA CUỘC ĐỜI MỊ VÀ A PHỦ


BÀI LÀM:
I. Văn xuôi giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) thực sự là một quá trình thí nghiệm, kiếm tìm sự phù hợp giữa nghệ thuật và cuộc sống. Thời gian ngắn, số lượng tác phẩm còn lại được đến hôm nay không nhiều, nhất là ở hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn. Chúng ta đặc biệt trân trọng những tác phẩm tinh túy của chặng đường văn học đặc biệt này, trong đó có truyện ngắn xuất sắc Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài.
Vợ chồng A Phủ vừa là thành tựu tương đối hiếm hoi của văn xuôi kháng chiến, vừa ghi dấu sự trưởng thành của ngòi bút Tô Hoài trong sự chiếm lĩnh mảng đề tài miền núi, một đề tài tới nay vẫn còn nhiều mới lạ với bạn đọc. Truyện được tổ chức chặt chẽ, dẫn dắt rất dung dị, tự nhiên, không cần chạy theo những chi tiết li kì rùng rợn mà vẫn có sức hút mạnh mẽ. Có được điều đó chính là nhờ cái nhìn hiện thực sắc bén và chủ nghĩa nhân đạo tích cực của nhà văn. Sự thể hiện cuộc đời hai nhân vật trung tâm từ bóng tối đau khổ, ô nhục vươn ra ánh sáng của tự do và nhân phẩm đã chứng minh rất rõ điều đó.

II. Cô Mị xinh đẹp, chăm làm nhưng nghèo khổ, có thể nói “Khổ từ trong trứng”. Bố mẹ nghèo , cưới nhau không có tiền phải vay nợ nhà thống lí. Nợ chưa trả hết, người mẹ đã qua đời. Bố già yếu quá, món nợ truyền sang Mị, Thống lí Pá Tra muốn Mị làm con dâu “gạt nợ”. Mà quan trên đã muốn, kẻ dưới làm sao thoát được! Pá Tra xảo quyệt, lợi dụng tục lệ của người Mèo, cho cướp Mị về. Thế là không có cưới hỏi, không cần tình yêu mà vẫn hoàn toàn hợp lẽ. Có ai dám bên vực Mị! Ngòi bút hiện thực tỉnh táo của Tô Hoài đã phanh trần bản chất bóc lột giai cấp ẩn sau những phong tục tập quán. Cô Mị, tiếng là con dâu nhưng thực sự là một nô lệ, thứ nô lệ người ta không phải là mua mà lại được tha hồ bóc lột, hành hạ. Mị ở nhà chồng như ở giữa địa ngục. Không có tình thương, không sự chia sẻ vợ chồng; chỉ có những ông chủ độc ác, thô bạo và những nô lệ âm thầm, tăm tối. Dần dần rồi Mị cũng quên luôn mình là con người nữa. Suốt ngày “Mị lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, lúc nào cũng cúi mặt, thế giới của Mị thu hẹp trong một cái ô cửa sổ” mờ mờ trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”. Kết quả của hoàn cảnh sống thật chua xót: “Ở lâu trong cái khổ Mị quen rồi”, cô nhẫn nhục, cam chịu đến thành tê liệt ý thức: “Là con trâu, con ngựa phải đổi từ cái tàu ngựa nhà này sang tàu ngựa nhà khác, con ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết làm mà thôi”. Ai có thể ngờ cô gái trẻ trung, yêu đời ngày nào thổi sáo hồi hộp chờ đợi người yêu, đã từng hái lá ngón định ăn để khỏi chịu nhục, giờ đây lại chai lì, u mê đến thế. Quả thật hoàn cảnh quyết định tính cách. Nguyên tắc biện chứng của chủ nghĩa hiện thực đã được nhà văn tuân thủ nghiêm ngặt. Sự yếu đuối của kẻ nô lệ, sự vùi dập tàn bạo của bọn bốc lột tất sẽ dẫn đến cảnh ngộ bi đát ấy. Nỗi khổ nhục của cô gái Mèo này thật đã có thể so sánh với nỗi nhục của Chí Phèo khi “Đánh mất cả nhân tính lẫn nhân hình”. (Thật ra, Chí Phèo còn có lúc nghênh ngang, còn dọa nạt được người khác). Nếu xem xét giá trị hiện thực của một tác phẩm như là sự phản ánh chân thật cuộc sống, thì Vợ chồng A Phủ quả là bản cáo trạng hùng hồn về nỗi thống khổ của người phụ nữ miền núi, vừa chịu gánh nặng của chế độ phong kiến, vừa bị trói chặt trong xiềng xích của thần quyền. Tâm lý nơm nớp sợ “Con ma nhà Thống Lý” đã nhận mặt mình từ buổi bị bắt về”Cúng trình ma” là một ám ảnh ghê gớm đè nặng suốt cuộc đời Mị (ngay cả đến khi cô đã trốn thoát khỏi Hồng Ngài). Xem thế đủ thấy bọn thống trị cao tay đến nhường nào trong nghệ thuật “ ngu dân” để dễ trị.
Có thể nói, nhà văn đã không hà tiện cung cấp cho người đọc những chi tiết có giá trị bóc trần bản chất xã hội vô nhân đạo, ở đó thân phận người dân nghèo mới mong manh bất ổn làm sao! Ta sững sờ trước cảnh cô Mị lặng lẽ ngồi lơ lững trong những đêm đông buốt giá, thằng chồng thì đi chơi về khuya ngứa tay đánh Mị ngã dúi xuống đất. Lại còn có cái hình ảnh nhức nhối phũ phàng: người con gái bị trói đứng vào cột trong buồng tối, bị trói chỉ vì muốn đi chơi tết như bạn bè. Sự bất lực của Mị tràn theo dòng nước mắt chua chát trên má môi mà không có cách gì lau đi được.
Những chi tiết như vậy làm cho bức tranh hiện thực nới rộng thêm dung lượng và linh động thêm. Sự xuất hiện của nhân vật chính A Phủ tạo thêm tình huống để hoàn chỉnh bức tranh đó. Cuộc đời nô lệ của A Phủ thật ra là sự lặp lại với ít nhiều biến thái chính cuộc đời Mị. Lý do mà Thống Lí Pá Tra buộc A Phủ phải thành người ở công không, không phải vì cuộc ấu đả thường tình của đám trai làng. Vấn đề là ở chỗ pháp luật trong tay ai? Khi kẻ phát đơn kiện cũng đồng thời là kẻ ngồi ghế quan toà thì còn nói gì tới công lý nữa! Vậy nên mới có cảnh xử kiện quái gỡ nhất trên đời mà chúng ta được chứng kiến tại nhà Thống Lí. Kết quả là người con trai khỏe mạnh phóng khoáng vì lẽ công bằng mà phải đem cuộc đời mình trả nợ nhà quan.
Cảnh ngộ của hai nhân vật Mị và A Phủ ít nhiều gợi đến những Chí Phèo, chị Dậu, những chú AQ và thím Tường Lâm… Đó là những hình tượng nghệ thuật được cô đúc từ chính cuộc đời đau khổ trong xã hội cũ.
Nhưng nếu nói giá trị hiện thực của tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” mà chỉ phân tích ở khía cạnh phơi bày, tố cáo, phê phán thông qua những cảnh ngộ bi thảm của người dân lao động là còn chưa đủ. Nhiều tác phẩm hiện thực phê phán xuất sắc vẫn được xem như có hạn chế trong tầm nhìn và bởi thế, giá trị hiện thực sẽ không được toàn vẹn. Tô Hoài trong khi đào sâu vào hiện thực đã phát hiện ra con đường tất yếu mà các nhân vật của ông đi tới. Sự đè nén quá nặng nề, những đau khổ chồng chất mà bọn thống trị gây ra tất sẽ dồn những kẻ khốn cùng ấy tới sự chống trả và nếu gặp được ánh sáng soi đường, họ sẽ đến được thắng lợi (Tô Hoài có cái may mắn là viết “Vợ chồng A Phủ” sau cách mạng tháng tám). Tất nhiên nhà văn phải có con đường riêng cho sự thể hiện chân thật chân lí đơn giản ấy. Lấy việc miêu tả tâm lí làm điểm tựa vững chắc, Tô Hoài đã tìm ra được sự phát triển logic của tính cách. Đây mới thật sự là một giá trị hiện thực độc đáo của tác phẩm, và là chỗ có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất. Tô Hoài đã chỉ ra sự hợp lí của quá trình tha hóa nhân cách của cô Mị thời kì đầu. Mị làm việc nhiều quá, bị đày đọa khổ ải quá, mãi rồi Mị phải “quen”, phải cam chịu. Lúc trước Mị không được quyền tự tử vì sợ liên luỵ với bố; giờ bố chết, nhưng Mị không còn muốn tự tử nữa. Mị như một cái máy, không có ý thức, không cảm xúc ước ao. Liệu cô ta có thể thức tỉnh được nữa không? Nhà văn trả lời: có. Nếu đã có một hoàn cảnh làm tê liệt tâm hồn con người thì cũng sẽ có một hoàn cảnh đánh thức được nó. Hoàn cảnh nào đây? Phép mầu nào đây? Kỳ diệu thay và cũng đơn giản thay. Là tiếng sáo Mị tình cờ nghe được giữa một ngày mùa xuân đầy hương sắc. Tất cả chợt sống dậy, Mị thấy lòng “thiết tha bồi hồi”và lập tức nhớ lại cả quãng đời thiếu niên tươi đẹp. Có gì lạ đâu nhỉ? Thanh niên Mèo ai chả yêu tiếng sáo, mà Mị lại là cô gái thổi sáo giỏi. Hơn nữa, tiếng sáo đang chập chờn kia lại nhắc đến tình yêu, “gọi bạn yêu” nó thức dậy trong sâu thẳm trong lòng cô khát vọng tình yêu thương và hạnh phúc. Như vậy tiếng sáo lại động chính cái sức mạnh bền vững, bất diệt nhất của tuổi trẻ, Mị nhớ lại rành rõ “mình vẫn còn trẻ lắm”, rằng “bao nhiêu người có chồng vẫn đi chơi xuân”. Và bên tai Mị cứ “lững lờ”. Tiếng sáo sự bừng tỉnh từ sâu xa trong tâm hồn ấy biểu hiện bên ngoài bằng hành động mới nhìn rất lạ: “Mị lén lấy hũ rượu cứ uống ừng ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy”. Có ngọn lửa nào đang cần phải khơi lên hay cần phải dập tắt đi bằng hơi men vậy? Chỉ biết rằng cô gái đã quyết thay váy áo đi chơi, điều mà bao năm rồi cô không nhớ đến. Có thể coi đây là một bước đột biến tâm lí nhưng là kết quả hợp lí toàn bộ quá trình tác động qua lại giữa hoàn cảnh với tính cách nhân vật. Sự “vượt rào” của Mị tuy bị đàn áp ngay (A Sử đã tắt đèn, trói đứng cô vào cột); nhưng ý thức về quyền sống, khát vọng về hạnh phúc đã trở lại. Mị lại biết khóc, lại muốn tự tử. Và những giọt nước mắt trong cái ngày tàn nhẫn này sẽ lưu giữ trong lòng Mị như một vết bỏng rát để đến khi bắt gặp những dòng nước mắt chảy “lấp lánh” trên gò má hốc hác của A Phủ, nó đã biến thành sự đồng cảm sâu sắc giữa những người cùng khổ. Toàn bộ ý thức phản kháng của Mị hiện hình qua một câu hỏi sáng rõ: “người kia việc gì phải chết?” Mị quyết định trong khoảnh khắc: cắt dây trói giải thoát cho A Phủ. Và tất nhiên, Mị cũng bỏ trốn, tự giải thoát chính mình. Hai kẻ trốn chạy chịu ơn nhau, cảm thông nhau, dựa vào nhau để tạo lập hạnh phúc. Thế nhưng cái đồn Tây lù lù xuất hiện và lại có cha con Thống Lí Pá Tra về ở trong đồn, thì họ thật sự bị dồn đến chân tường. Trước mặt họ, chỉ còn sự lựa chọn cuối cùng: trở lại kiếp nô lệ hay chống kẻ thù. Chắc chắn họ thà chết còn hơn lại sống như cũ. Nhưng muốn chống kẻ thù, họ trông cậy vào ai? Cách mạng đã đến với họ đúng giây phút ấy. Mị và A Phủ đi theo cách mạng, sẽ thuỷ chung với cách mạng như một lẽ tất yếu!
Bằng sự am hiểu cuộc sống và khả năng phân tích những vấn đề sắc bén, nhất là bằng ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, Tô Hoài đã tái hiện chân thật và sinh động cuộc hành trình từ đau khổ, tối tăm ra phía ánh sáng cách mạng của những người dân lao động với chế độ cũ. Tác phẩm đem lại cho bạn đọc nhận thức đúng đắn về con đường cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta. Ngoài ra giá trị hiện thực của truyện còn được gia tăng bằng màu sắc địa phương rất đậm nét với cảnh sắc, phong tục, sinh hoạt của người Mèo, bằng bản sắc tâm hồn độc đáo của các nhân vật. Cùng một số phận, một cảnh ngộ, những diễn biến tâm lí của Mị rất khác A Phủ. A Phủ mạnh mẽ, bộc trực, dứt khoát. Mị dường như chính chắn hơn nhưng lại yếu đuối hơn. Bất cứ tác phẩm văn học nào cũng chứa đựng thái độ của nhà văn đối với cuộc sống, trước hết là với con người. Ngay giá trị hiện thực của ”Vợ chồng A Phủ” đã để lộ cái nhìn nhân đạo, ưu ái của Tô Hoài.
Khi cô đúc nỗi cùng khốn vào hai thân phận nô lệ với ý thức làm một bản cáo trạng về xã hội cũ, Tô Hoài đã gợi lên trong chúng ta sự căm phẫn, sự đau xót, sự cảm thông khi miêu tả buổi lễ ăn thề giữa A Châu và A Phủ như là cuộc nhân duyên giữa quần chúng và cách mạng, ông đem lại niềm tin về một tương lai sáng sủa cho những người bị áp bức.
Thật ra cũng khó tách bạch đâu là giá trị hiện thực, đâu là giá trị nhân đạo ở một tác phẩm như “Vợ chồng A Phủ”. Hiện thực và nhân đạo nhiều khi hòa trộn với nhau. Không thể không nói đến tính chân thật, chính xác, logic ở những đoạn mô tả tâm lí, nhưng rõ ràng phải biết thông cảm, biết trân trọng nâng niu con người lắm, mới có thể xét đoán tâm hồn người ta tinh tế như vậy. Thật khó quên hình ảnh cô Mị lần tìm về quỳ lạy trước mặt bố mà khóc nức nở. Đứa con chưa kịp nói gì người cha đã biết: “Mày về quỳ lạy tao để mày chết đấy à? Không được đâu con ơi”. Mị ném nấm lá ngón xuống đất, quay trở lại chốn địa ngục trần gian. Phải, cô gái ấy vốn có một nhân cách đáng trọng. Cô thà chết để khỏi sống khổ nhục, nhưng lại phải chấp nhận sống khổ nhục hơn bất hiếu với cha. Chính Mị, khi còn trẻ đã biết xin bố:”con nay đã lớn rồi con sẽ thay bố làm nương trả nợ. Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Đó là con người biết yêu quý tự do, biết khẳng định quyền sống. Ngay cả lúc bị hoàn cảnh vùi dập đến mê mụ, trong tro tàn của lòng cô vẫn âm ỉ đốm than hồng của niềm ham sống, khao khát thương yêu. Nếu nhà văn chỉ tuân theo một thứ hiện thực khách quan, lạnh lùng thì làm sao ông có thể đón đợi và nắm bắt tài tình giây phút sống lại bất ngờ và mãnh liệt đến thế của cô gái. Không trước sau ông vẫn tin rằng hoàn cảnh dẫu có khắc nghệt đến mấy, cũng không thể tiêu diệt hoàn tòan nhân tính. Mị đã sống lại bằng tuổi trẻ, bằng nỗi day dứt về thân phận của mình. Chính cái khát vọng sống mãnh liệt không thể chết được ở Mị, làm cho Mị đồng cảm với cảnh ngộ của A Phủ và đi đến quyết định giải thoát cho A Phủ, giúp Mị tự giải thoát khỏi cái chốn địa ngục để làm lại cuộc đời, để sống như một con người.

III. Tô Hoài đã trân trọng từng bước trưởng thành của Mị và A Phủ. Cái nhìn của ông về hai nhân vật này là một cái nhìn nhân đạo tích cực. Ông cảm thông nỗi đau của Mị và A Phủ, mặt khác ông trân trọng ý thức nhân phẩm, khát vọng giải phóng và tin ở khả năng tự làm chủ trước cuộc đời của hai con người đau khổ này. Phải chăng, chính cái nhìn đó đã tạo nên giá trị của tác phẩm.

Hocmai.vn

Phân tích diễn biến tâm trạng Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ.

Phân tích diễn biến tâm trạng Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ.


Gợi ý:Dàn bài chi tiết

1. Giới thiệu sơ lược về Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ

2. Phân tích tâm trạng Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ
- Giới thiệu sơ lược về A Phủ : một thanh niên có thân phận như Mị, cũng phải ở nhà thống lý Pá Tra để gạt nợ. Do để mất bò mà bị trói đêm này sang đêm khác, ngày này sang ngày kia.
- Tâm trạng của Mị trước đêm cởi trói cho A Phủ :
+ Cuộc sống đoạ đày trong nhà thống lý Pá Tra của Mị vẫn tiếp diễn. Thời gian đoạ đày biến cô trở thành người câm lặng trước mọi sự. Những gì diễn ra chung quanh không khiến Mị quan tâm. Những đêm đầu Mị thổi lửa hơ tay. Tâm hồn Mị như tê dại trước mọi chuyện, kể cả lúc ra sưởi lửa, bị A Sử dánh ngã xuống bếp, hôm sau Mị vẫn thản nhiên ra sưởi lửa như đêm trước.
+ Song, trong lòng, không phải chuyện gì Mị cũng bình thản. Mị rất sợ những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn. Khi trong nhà đã ngủ yên, Mị tìm đến bếp lửa.
Đối với Mị, nếu không có bếp lửa ấy, cô sẽ chết héo.
- Thương người cùng cảnh ngộ :
Chính nhờ ngọn lửa, đêm ấy, Mị trông sang A Phủ và nhìn thấy một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống má đã xám đen lại. Dòng nước mắt ấy khiến Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải đứng trói thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không lau đi được. Rồi Mị phảng phất nghĩ gần nghĩ xa : Cơ chừng này thì chỉ đêm mai là người kia chêt, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết.
Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì còn biết đợi ngày rũ xương ở đây mà thôi… Người kia việc gì phải chết thế?
- Tình thương lớn hơn cái chết :
Mị xót xa cho A Phủ như xót xa cho chính bản thân mình. Mị thương cho A Phủ không đáng phải chết. Cô cũng sợ nếu mình cởi trói cho chàng trai ấy, bố con Pá Tra biết được sẽ tói thay vào đấy và lại phải chết trên cái cọc ấy... Song có lẽ tình thương ở Mị đã lớn hơn cả sự chết. Tình thương ấy khiến cô đi đến hành động cởi trói cho A Phủ.
- Từ cứu người đến cứu mình :
Khi cởi trói cho A Phủ xong, Mị đứng lặng trong bóng tối. Song, chính ngay lúc ấy, trong lòng người đàn bà khốn khổ kia mọi chuyện diễn ra rất nhanh. Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi.
Vì ở đây thì chết mất.
Đây không phải là hành động mang tính bản năng. Đúng hơn, cùng với sự trỗi dậy của ký ức, khát vọng sống tự do, đã khiến Mị chạy theo người mà mình vừa cứu.
Mị giải thoát cho A Phủ Phủ và giải thoát cho cả bản thân mình! Hành động táo bạo và bất ngờ ấy là kết quả tất yếu của sức sống tiềm tàng khi người con gái yếu ớt dám chống lại cả cường quyền và thần quyền.

3. Kết luận:
Qua tâm trạng của Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ, chúng ta thấy được cả sức sống tiềm tàng ở một người phụ nữ bị đoạ đày vả về thể xác lẫn tinh thần, tưởng chừng như mất đi hết đời sống tâm hồn. Phải yêu thương và có một niềm tin mãnh liệt vào con người nhà văn mới có được cái nhìn nhân đạo như vậy. Tô Hoài đã miêu tả diễn biến tâm trạng của nhân vật Mị rất tự nhiên, hợp lý và chân thực. Không thấy diễn biến tâm trạng của nhân vật sẽ không hiểu được hành động của nhân vật đó. Hành động cuối cùng của Mị - cởi trói cho A Phủ - có vẻ bất ngờ nhưng lại hợp với quy luật tâm lý con người, quy luật của cuộc sống.
Nhà văn không chỉ đem đến cho bạn đọc những nhân vật biết hành động mà quan trọng hơn là vì sao có hành động ấy. Tô Hoài đã rất thành công khi xây dựng một nhân vật có sức sống bên trong mãnh liệt đằng sau khuôn mặt vô hồn, vô cảm của Mị. Bởi vậy, có người đã xem đây là “một nhân vật thành công bậc nhất 
trong văn xuôi cách mạng đương đại Việt Nam” ( Trần Đình Sử )

Hocmai.vn

Phân tích diễn biến tâm lí và hành động của nhân vật Mị qua cảnh đêm mùa xuân Mị muốn đi chơi và bị trói trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ

Phân tích diễn biến tâm lí và hành động của nhân vật Mị qua cảnh đêm mùa xuân Mị muốn đi chơi và bị trói trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài (phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam - 2012).
(Câu 3a đề thi Tốt nghiệp THPT năm 2013)


Đáp án của Bộ GD và ĐT:

a. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi; biết cách phân tích nhân vật trong tác phẩm truyện. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; lời văn trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

b. Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở những hiểu biết về nhà văn Tô Hoài và tác phẩm Vợ chồng A Phủ, thí sinh có thể trình bày bài viết theo nhiều cách nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:

c. Nêu được vấn đề nghị luận
Hoàn cảnh xuất hiện tâm trạng và hành động của Mị
- Mị vốn là một thiếu nữ xinh đẹp, tài hoa, yêu đời; từ khi buộc phải làm con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra, Mị cam chịu đến mức như không còn ý thức sống.
- Mùa xuân về, thiên nhiên đất trời thay đổi, không khí đón Tết náo nức (đối lập với không gian sống và tâm trạng của Mị) khiến sức sống trong Mị trỗi dậy.
Nội dung diễn biến tâm lí và hành động của Mị
- Khi nghe tiếng sáo gọi bạn tình:
+ Tâm trạng: bồi hồi xúc động, thức tỉnh (ý thức về thời gian, kỉ niệm sống dậy, tiếng sáo gợi nhớ, thấy mình còn trẻ, ý thức về thân phận, …) và muốn đi chơi.
+ Hành động: khác thường (nhẩm theo bài hát, uống rượu, xắn mỡ bỏ thêm vào đĩa đèn, sửa soạn đi chơi, …) thể hiện trạng thái phản kháng
- Khi bị trói:
+ Tâm trạng: đau khổ, chập chờn giữa quá khứ và hiện tại (không biết mình bị trói, vẫn sống với tiếng sáo, bồi hồi tha thiết, lúc mê, lúc tỉnh, …).
+ Hành động: mạnh mẽ (vùng bước đi nhưng bị dây trói thít chặt).
Nghệ thuật
- Miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật phù hợp với logic của đời sống, đạt đến sự chân thực, tinh tế.
- Trần thuật uyển chuyển, linh hoạt; dẫn dắt tình tiết khéo léo, tự nhiên.
- Ngôn ngữ sinh động, chọn lọc, sáng tạo; câu văn giàu tính tạo hình và đậm chất thơ.
Đánh giá: Diễn biến tâm lí và hành động của Mị đã thể hiện một tâm hồn khao khát hạnh phúc, một sức sống tiềm tàng mãnh liệt; thể hiện tình cảm nhân đạo của nhà văn.

Lưu ý: Nếu thí sinh có kĩ năng làm bài tốt, cơ bản đạt được các yêu cầu về kiến thức thì vẫn cho điểm tối đa

Nguồn:
Bộ GD & ĐT

Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài

Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài


A. KHÁI QUÁT
1. Tác giả
2.Tác phẩm
2.1.Xuất xứ
2.2. Hoàn cảnh sáng tác
2.3. Nội dung - chủ đề

B. TÌM HIỂU TÁC PHẨM
I. Nhân vật Mị
1.Mị vốn là người con gái có những phẩm chất tốt đẹp
1.1. Mị là một cô gái xinh đẹp, tài hoa.
1.2. Mị là người con gái có tính cách mạnh mẽ, tự chủ.
1.3. Mị vốn là cô gái có trái tim vị tha, nhân hậu.
2. Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài đã miêu tả Mị trong những bất hạnh của kiếp sống làm dâu gạt nợ
- Mị không được sống với tình yêu của mình, không được tự quyết định cuộc đời mình, vì món nợ của cha mẹ, Mị đã bị bắt về làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí.
- Cũng như bao người phụ nữ miền núi khác, Mị phải chịu cảnh áp bức bóc lột nặng nề sức lao động trong kiếp sống làm dâu gạt nợ.
- Mị còn bị hành hạ đau đớn cả về tinh thần và thể xác.
3. Nhà văn đã thể hiện niềm tin yêu vào bản chất tốt đẹp và sức sống mãnh liệt của nhân vật
3.1. Khi mới bị bắt về làm dâu gạt nợ trong nhà thống lí.
3.2. Sau những năm tháng chịu đày ải trong nhà thống lí.
3.3. Sự hồi sinh sức sống tiềm tàng, mãnh liệt trong lòng người đàn bà bất hạnh qua những diễn biến tâm trạng và hành động của Mị trong đêm tình mùa xuân.
3.3.1. Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người miền Tây Bắc khi mùa xuân đến.
3.3.2. Diễn biến tâm trạng và hành động của Mị trong đêm tình mùa xuân.
- Mị nghe tiếng sáo.
- Mị uống rượu.
- Mị lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng, rồi Mị quấn lại tóc, với cái
váy hoa ... chuẩn bị đi chơi.
- Sự hồi sinh của Mị đã bị vùi dập thật độc ác.
3.4. Sự hồi sinh trái tim nhân hậu và khát vọng sống của Mị trong đêm đông cởi trói cứu A Phủ và tự giải thoát chính mình.
3.4.1. Lúc đầu.
3.4.2. Từ lúc nhìn thấy A Phủ khóc.
3.4.3. Mị cắt dây trói cứu A Phủ.
3.4.4. Mị tự giải thoát cho chính mình khỏi kiếp sống trâu ngựa trong nhà thống lí.
II. Nhân vật A Phủ
1. A Phủ là người có số phận bất hạnh.
2. A Phủ là người có những phẩm chất tốt đẹp.
2.1. Cuộc sống gian truân, khổ sở cũng đã giúp A Phủ có những phẩm chất đáng quý trọng của một người lao động miền núi cao.
2.2. A Phủ cũng là người con trai núi rừng có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ.
2.3. A Phủ biết trân trọng nghĩa tình và có tâm lòng cảm thông.

C. KẾT LUẬN
1. Giá trị nghệ thuật.
2. Giá trị nội dung.

Hocmai.vn

Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tùy bút cùng tên để làm rõ những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân.

Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tùy bút cùng tên để làm rõ những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân.


BÀI LÀM:

I. Mở bài
- Nguyễn Tuân là tác giả lớn của văn học hiện đại Việt Nam với những thành tựu xuất sắc ở cả hai giai đoạn trước và sau năm 1945.
- Sáng tác của Nguyễn Tuân mang phong cách riêng độc đáo trong đó nổi bật chất tài hoa uyên bác. Là một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp, Nguyễn Tuân thường khám phá thế giới ở phương diện văn hóa thẩm mĩ, khám phá con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ.
- Người lái đò sông Đà là bài tùy bút xuất sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập Sông Đà năm 1960.
- Thông qua việc khắc họa hình ảnh người lái đò sông Đà, tùy bút đã phát hiện, đã khẳng định và ngợi ca thứ vàng mười đã qua thử lửa của tâm hồn, tính cách con người Tây Bắc trong cuộc sống lao động hàng ngày của họ và thể hiện những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân.

II. Thân bài
Quan niệm của Nguyễn Tuân: Trước 1945, Nguyễn Tuân thường say mê miêu tả vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ trong những con người đặc tuyển, xuất chúng, vì thế, cái đẹp và người tài thường cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời, và trong hoàn cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam những năm đầu XX, đó là những vẻ đẹp vang bóng một thời thường đem đến sự ngưỡng mộ ngậm ngùi, nuối tiếc. Sau 1945, quan niệm thẩm mĩ của nhà văn đã có những thay đổi cơ bản. Vẫn nhìn con người từ phương diện tài hoa nghệ sĩ nhưng bây giờ, Nguyễn Tuân cho rằng bất cứ người lao động nào khi đạt tới trình độ điêu luyện giỏi giang trong công việc của mình đều có thể coi là nghệ sĩ và xứng đáng được tôn vinh ở vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ. Trong những sáng tác sau 1945, Nguyễn Tuân đã khám phá vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của những con người lao động bình thường trong cuộc sống đời thường, qua đó mà bộc lộ tấm lòng trân trọng, yêu mến đối với họ. Người lái đò sông Đà trong tùy bút cùng tên cũng là một nhân vật được nhà văn khám phá và thể hiện không chỉ ở vẻ đẹp tài hoa mà còn là trí dũng.
1. Bối cảnh và tình huống
a. Ngay khi miêu tả dòng sông Đà hung bạo khúc thượng nguồn, Nguyễn Tuân đã có ý thức tạo dựng một nền thiên nhiên dữ dội kì vĩ, một không gian hào tráng, lớn lao xứng đáng với sự xuất hiện của người anh hùng sông nước.
b. Và để khắc họa vẻ đẹp trí dũng tài hoa của ông đò, Nguyễn Tuân đã miêu tả một cuộc vượt thác nguy hiểm và ngoạn mục trong đó nổi bật sự tương phản giữa một thiên nhiên ác hiểm, hung bạo với con người trí dũng ngoan cường, đó cũng là trận thủy chiến dữ dội giữa một bên là những trùng vi thạch trận của đá thác, nước thác cùng sóng gió với một bên là chiếc thuyền then đuôi én mỏng manh và những người lái đò nhỏ bé, đơn độc.
2. Vẻ đẹp trí dũng tài hoa của ông đò trong trận thủy chiến với sóng thác sông Đà
Sự sắc sảo tài hoa không cho phép Nguyễn Tuân miêu tả một cuộc vượt thác dễ dàng, chóng vánh.
a. Ở vòng vây thứ nhất của thạch trận, Nguyễn Tuân đã không giấu được lòng ngưỡng mộ và cảm phục trước bản lĩnh kiên cường, sự dũng mãnh, bình thản của người lái đò.
b. Tới vòng vây thứ hai của thạch trận, ông đò không chỉ dũng mãnh, kiên cường mà còn thể hiện trí tuệ và tài hoa con người thậm chí đã chiến thắng cả thần sông thần đá.
c. Ở vòng vây cuối, tài năng của ông đò đã bao hàm cả trí tuệ, sự trải nghiệm, sức mạnh thể lực, trình độ điêu luyện và bản lĩnh kiên cường - tất cả đều đạt tới mức phi phàm, kì diệu.
3. Nhận xét:

III. Kết luận
- Tùy bút Người lái đò sông Đà là một thiên anh hùng ca ca ngợi vẻ đẹp hào tráng của con người trong cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên. Với quan niệm thẩm mĩ mới mẻ, tích cực của Nguyễn Tuân, người lái đò nơi thượng nguồn Tây Bắc thực sự là một nghệ sĩ tài hoa, một anh hùng sông nước khi hàng ngày phải chiến đấu và luôn phải chiến thắng thiên nhiên bằng trí tuệ, sự khéo léo, sức mạnh và lòng can đảm của mình.
- Người lái đò sông Đà là một áng văn đẹp thể hiện những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân, một nhà văn tài hoa uyên bác, nhà văn luôn khám phá, miêu tả con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ. Với việc thể hiện nhuần nhuyễn những nét phong cách ấy, tác phẩm đã thực sự thành công khi phát hiện và miêu tả chất vàng mười quí giá trong tâm hồn, tính cách những người lao động bình dị miền Tây Bắc./.

Hocmai.vn

Người lái đò sông đà - Nguyễn Tuân


A. Khái quát

1. Tác giả:
- Nguyễn Tuân là tác giả lớn của văn học hiện đại Việt Nam với những thành tựu xuất sắc ở cả hai giai đoạn trước và sau năm 1945.
- Sáng tác của Nguyễn Tuân mang phong cách riêng độc đáo trong đó nổi bật chất tài hoa uyên bác. Là một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp, Nguyễn Tuân thường khám phá thế giới ở phương diện văn hóa thẩm mĩ, thường miêu tả con người trong vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ.

2. Tác phẩm
2.1. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác: Người lái đò sông Đà là bài tùy bút xuất sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập Sông Đà năm 1960.
Sông Đà là thành quả chuyến đi gian khổ và hào hứng của Nguyễn Tuân lên miền đất Tây Bắc xa xôi và rộng lớn những năm 58-60, chuyến đi không chỉ nhằm thỏa mãn niềm khát khao xê dịch mà chủ yếu để tìm kiếm chất vàng trong vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc, phát hiện thứ vàng mười đã qua thử lửa của tâm hồn con người Tây Bắc trong cuộc sống hàng ngày của họ. Tác phẩm đã thể hiện những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân.
2.2. Lời đề từ:
a. Đẹp vậy thay, tiếng hát trên dòng sông! ( Wladyslaw Broniwski- Ba Lan ): Nhà văn đã mượn câu thơ mang cấu trúc cảm thán để bộc lộ những xúc cảm đang trào dâng mãnh liệt trong lòng. Tiếng hát trên dòng sông có thể là tiếng hát của những người chèo đò, kéo thuyền, vượt thác, tiếng hát thể hiện tâm hồn lạc quan, yêu đời, yêu thiên nhiên và cuộc sống lao động của con người Tây Bắc; cũng có thể hiểu là tiếng hát say mê, phấn khích đầy ngưỡng mộ của nhà văn trước vẻ đẹp của dòng sông. Lời đề từ do đó đã thể hiện cảm hứng chủ đạo của tùy bút, đó là tình yêu đắm say, tha thiết của nhà văn với thiên nhiên và con người trên dòng sông Đà.
b. Chúng thủy giai đông tẩu- Đà giang độc bắc lưu ( Nguyễn Quang Bích): Hai câu thơ chữ Hán đã đề cập tới một nét độc đáo của sông Đà khi mọi dòng sông đều chảy về hướng đông, chỉ có sông Đà một mình chảy theo hướng bắc- đó cũng là đặc điểm khơi gợi hứng thú khám phá và chiêm ngưỡng của một nhà văn suốt đời kiếm tìm cái Đẹp và sự độc đáo. Nhưng khi mượn câu thơ xưa làm lời đề từ, có lẽ tác giả Người lái đò sông Đà không chỉ muốn nhắc đến sự ngược ngạo của dòng sông mà còn nhằm khẳng định cá tính độc đáo của mình trong dòng sông văn chương, đó là văn phong đầy sáng tạo của một nhà văn có ý thức sâu sắc về cái Tôi cá nhân, về Bản Ngã, về cá tính riêng trong sáng tạo nghệ thuật.
Với hai lời đề từ, tác giả Nguyễn Tuân đã cho thấy đồng thời cả cảm hứng sáng tác và phong cách nghệ thuật độc đáo của mình trong tùy bút Người lái đò sông Đà.

B. Tìm hiểu văn bản

Đề 1: Phân tích hình tượng dòng sông Đà trong tùy bút Người lái đò sông Đà để làm rõ những nét
đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân.

I. Mở bài
- Nguyễn Tuân là tác giả lớn của văn học hiện đại Việt Nam với những thành tựu xuất sắc ở cả hai giai đoạn trước và sau năm 1945. Sáng tác của Nguyễn Tuân mang phong cách riêng độc đáo trong đó nổi bật chất tài hoa uyên bác. Là một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp, Nguyễn Tuân thường khám phá thế giới ở phương diện văn hóa thẩm mĩ, khám phá con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ.
- Người lái đò sông Đà là bài tùy bút xuất sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập Sông Đà năm 1960.
- Thông qua việc khắc họa hình ảnh dòng sông Đà, tùy bút đã phát hiện chất vàng trong vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc, qua đó thể hiện những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân.

II. Thân bài
Qua ngòi bút của một nhà văn luôn khám phá thế giới ở phương diện văn hóa, thẩm mĩ, trong tùy bút Người lái đò sông Đà, dòng sông Đà đã hiện lên như một công trình mĩ thuật kì vĩ, tuyệt vời của tạo hóa với hai ấn tượng sâu đậm: dữ dằn, hung bạo và thơ mộng, trữ tình.
1. Dòng sông hung bạo.
1.1. Một trong những hình ảnh đầu tiên gợi lên sự hùng vĩ của sông Đà chính là cảnh đá bờ sông dựng vách thành.
1.2. Sự hung bạo của sông Đà tiếp tục được đẩy cao hơn trong đoạn văn miêu tả cảnh mặt ghềnh Hát Loóng.
1.3. Đem lại những ấn tượng mạnh mẽ hơn nữa cho sự hung bạo của sông Đà là hình ảnh những cái hút nước trên sông.
1.4. Nhưng có lẽ khủng khiếp nhất trong diện mạo và tâm địa của thứ kẻ thù số một của con người phải là thác đá sông Đà.
a. Thác đá khi ở xa:
b. Thác đá ở gần:
Toàn bộ sông Đà với thác ghềnh, sóng gió, với đá và nước thác, đã được Nguyễn Tuân miêu tả sống động, đầy ấn tượng như một con thủy quái với diện mạo khủng khiếp, tâm địa ác hiểm, những hành động hung hãn, dữ dằn.
1.5. Tuy nhiên, ngay khi miêu tả một sông Đà hung bạo, hiểm ác, làm hiện lên tất cả diện mạo và tâm địa của thứ kẻ thù số một của con người, nhà văn của những cảm giác mãnh liệt, những phong cảnh phi thường tuyệt mĩ, những gió bão, thác ghềnh dữ dội, những núi cao, vực sâu…vẫn luôn truyền cho người đọc niềm say mê khao khát muốn được tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên.
Thông qua sự quan sát tinh tế,cách diễn tả tài hoa, những tri thức uyên bác, nhà văn của những cảm giác mạnh, những cảnh trí dữ dội, phi thường đã làm hiện lên hình ảnh dòng sông Đà hung bạo, hiểm ác không chỉ như một con thủy quái, kẻ thù số một của con người mà còn trở thành một công trình mĩ thuật kì vĩ, tuyệt vời của tạo hóa, khơi gợi cảm giác hãi hùng đầy ngưỡng mộ, mê đắm.
2. Dòng sông trữ tình
2.1. Làm nên nét trữ tình đầu tiên là hình ảnh con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân.
2.2. Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà còn hiện ra qua những màu sắc đầy biến ảo khi vì niềm yêu và sự say mê, Nguyễn Tuân đã quan sát dòng sông một cách công phu và tinh tế trong những thời điểm khác nhau, với những sắc thái khác nhau.
2.3. Trong niềm yêu nhớ của Nguyễn Tuân, sông Đà gợi cảm như một cố nhân.
2.4. Và có lẽ nét trữ tình thi vị nhất của sông Đà chính là ở sắc thái lặng tờ hoang dại của nó.
2.5. Trong đoạn văn miêu tả dòng sông trữ tình, cái tôi trữ tình của nhà văn đã thể hiện trong đam mê, dạt dào cảm xúc, những xao xuyến nhớ nhung…

III. Kết luận
Với việc phối hợp linh hoạt các thủ pháp nghệ thuật đặc sắc như ẩn dụ, nhân hóa, so sánh…, với lối hành văn đầy biến hóa, độc đáo, giàu sức gợi tả và gợi cảm, vận dụng tri thức tổng hợp của nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau để quan sát, miêu tả hoặc bộc lộ cảm xúc, Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng dòng sông Đà trong hai sắc thái: hung bạo và trữ tình. Ông đã thể hiện rõ nét phong cách Nguyễn Tuân của mình trong những trang viết tài hoa, uyên bác khi miêu tả dòng sông, trong cách tô đậm những sắc thái phi thường tuyệt mĩ trong việc soi chiếu dòng sông từ góc độ văn hóa, thẩm mĩ, và nhất là trong cách khắc họa dòng sông Đà như một công trình mĩ thuật kì vĩ tuyệt vời của tạo hóa, để từ đó người đọc nhận ra tình yêu say đắm của nhà văn với quê hương, đất nước.

Hocmai.vn

Thứ Tư, 13 tháng 8, 2014

Phân tích 13 câu thơ cuối trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo.

không ai chôn cất tiếng đàn 
tiếng đàn như cỏ mọc hoang 
giọt nước mắt vầng trăng 
long lanh trong đáy giếng 

đường chỉ tay đã đứt 
dòng sông rộng vô cùng 
Lorca bơi sang ngang 
trên chiếc ghi ta màu bạc 

chàng ném lá bùa cô gái Digan 
vào xoáy nước 
chàng ném trái tim mình 
vào lặng yên bất chợt 

lilalilalila...


I. Mở bài
- Thanh Thảo là một trong số những nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, Thanh Thảo đã được dư luận chú ý từ những tập thơ và trường ca mang diện mạo độc đáo viết về chiến tranh và thời hậu chiến như Những người đi tới biển (1977), Dấu chân qua trảng cỏ (1978), Khối vuông ru-bích (1985)...
- Thơ Thanh Thảo là tiếng nói của người trí thức nhiều trăn trở, suy tư về các vấn đề xã hội và thời đại. Những trăn trở, suy tư ấy đã tìm đến sự thể hiện trong những bài thơ thể hiện xu hướng cách tân thơ Việt trong cả nội dung và hình thức biểu đạt.
- Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca rút trong tập Khối vuông ru- bích (1985). Đây là một sáng tác tiêu biểu cho
kiểu tư duy thơ của Thanh Thảo: giàu suy tư, cảm xúc mãnh liệt, phóng túng và nhuốm màu sắc siêu thực, tượng trưng được học tập từ chính phong cách thơ hiện đại của Lor-ca.
- Đoạn thơ bình giảng là 13 câu cuối của bài thơ, trong đó Thanh Thảo đã thể hiện những cảm xúc, suy ngẫm
về cuộc đời, sự nghiệp và cách ra đi của Lor-ca .

II. Thân bài
1. Hai câu đầu là hình ảnh tiếng đàn, sự nghiệp nghệ thuật và khát vọng đổi mới của Lor-ca sau khi ông ra đi:
không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
1.1. Trong bài thơ Ghi nhớ, Lor-ca bộc lộ những tâm nguyện chân thành, tha thiết: Khi nào tôi chết hãy vùi thây tôi cùng cây đàn dưới lớp cát
- Đoạn thơ thể hiện tình yêu say đắm của Lor-ca với cây đàn ghi ta, với nghệ thuật, với quê hương đất nước, và còn là thông điệp cao đẹp của Lor-ca gửi tới cuộc đời.
1.2. Ý thơ của Lor-ca đã được Thanh Thảo lấy làm lời đề từ cho bài thơ: Khi tôi chết, hãy chôn tôi với cây đàn! khiến tư tưởng vĩ đại của Lor-ca trở thành một trong những chủ đề của bài thơ, là tình yêu cháy bỏng với cây đàn ghi ta, với nghệ thuật, cũng đồng thời là thông điệp của người nghệ sĩ cao cả đã hi sinh cuộc đời vì nghệ thuật, lại sẵn sàng hi sinh cả sự nghiệp nghệ thuật của cá nhân mình cho công cuộc đổi mới nghệ thuật Tây Ban Nha - đó là khát vọng vĩ đại của một nhân cách vĩ đại.
1.3. Hai câu thơ đầu không ai chôn tiếng đàn-tiếng đàn như cỏ mọc hoang đã gợi ra nhiều tầng ý nghĩa.
- Trước hết, có thể hiểu là nỗi chua xót cho hành trình cách tân nghệ thuật dang dở cùng tâm nguyện đổi mới của Lor-ca với nghệ thuật Tây Ban Nha.
- Tuy nhiên hai câu thơ này cũng có thể hiểu theo một nét nghĩa khác, đó là niềm tin mãnh liệt vào sự bất tử của tiếng đàn, tiếng thơ, cũng là tiếng lòng Lor-ca.
- Hai ý nghĩa trên không hề loại trừ nhau trong lời thơ Thanh Thảo khi phủ định mà không lãng quên, vượt qua mà không xóa bỏ, đổi mới hướng tới tương lai mà vẫn trân trọng, giữ gìn quá khứ, đó là sự cách tân mang tính nhân văn sâu sắc.
2. Nỗi buồn sau cái chết của Lor-ca, sự xót xa trước một khát vọng cách tân dang dở đã được Thanh Thảo thể hiện qua những hình ảnh mang khuynh hướng tượng trưng trong đó các liên kết lôgich đã bị xóa mờ:
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
3. Hai khổ thơ cuối bài cũng là những ẩn dụ sâu xa thể hiện suy ngẫm của nhà thơ Việt về cách ra đi, cách từ biệt cuộc đời của Lor-ca:
đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lor-ca bơi sang ngang
trên chiếc ghi ta màu bạc
Chàng ném lá bùa cô gái Di-gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt

III. Kết luận
- Cũng như cả bài thơ, đoạn thơ thể hiện những thành công của Thanh Thảo trong việc thể nghiệm một phong cách thơ hiện đại gần gũi với thơ tượng trưng và siêu thực. Cả bài thơ là nối tiếp những câu thơ không viết hoa chữ đầu câu, có thể coi đó là biểu hiện của nhữnng dòng ghi chép ngẫu hứng, những cảm nhận mơ hồ, những liên tưởng đột ngột, những phút lóe sáng của trực giác, những ấn tượng bất chợt theo phong cách thơ siêu thực, tượng trưng. Bài thơ có sự kết hợp độc đáo giữa tính liên tục của cốt tự sự với tính gián đoạn của suy cảm trữ tình, giữa thơ, nhạc và họa, giữa những thi ảnh của Lor-ca với những thi ảnh của chính nhà thơ Thanh Thảo, giữa chất giao hưởng phương Tây với màu sắc thơ viếng phương Đông...Viết về một nghệ sĩ, một nhạc sĩ, một họa sĩ...Thanh Thảo đã có ý thức đem đến chất họa đầy ấn tượng và chất nhạc thật dồi dào cho tác phẩm.
- Từ đó, Thanh Thảo đã xây dựng hình tượng Lor-ca với vẻ đẹp bi tráng, thể hiện sự đồng cảm và tri âm, sự
ngưỡng mộ và yêu mến, niềm kính trọng và tiếc thương sâu sắc với cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của người nghệ sĩ tài hoa, nhà cách tân kiên cường, người chiến sĩ dũng cảm, người con ưu tú của đất nước Tây Ban Nha.

Hocmai.vn

Phân tích đoạn thơ sau đây trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor- ca của Thanh Thảo (12 câu tiếp).

Tây Ban Nha 
hát nghêu ngao 
bỗng kinh hoàng 
áo choàng bê bết đỏ 
Lorca bị điệu về bãi bắn 
chàng đi như người mộng du 

tiếng ghi ta nâu 
bầu trời cô gái ấy 
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy 
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan 
tiếng ghi ta ròng ròng 
máu chảy 


I. Mở bài
- Thanh Thảo là một trong số những nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, Thanh Thảo đã được dư luận chú ý từ những tập thơ và trường ca mang diện mạo độc đáo viết về chiến tranh và thời hậu chiến như Những người đi tới biển-1977, Dấu chân qua trảng cỏ- 1978, Khối vuông ru-bích-1985...
- Thơ Thanh Thảo là tiếng nói của người trí thức nhiều trăn trở, suy tư về các vấn đề xã hội và thời đại. Những trăn trở, suy tư ấy đã tìm đến sự thể hiện trong những bài thơ thể hiện xu hướng cách tân thơ Việt trong cả nội dung và hình thức biểu đạt.
- Bài thơ Đàn ghi ta của Lor- ca rút trong tập Khối vuông ru- bích (1985). Đây là một sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ của Thanh Thảo: giàu suy tư, cảm xúc mãnh liệt, phóng túng và nhuốm màu sắc siêu thực, tượng trưng được học tập từ chính phong cách thơ hiện đại của Lor- ca.
- Đoạn thơ bình giảng là 12 câu ở giữa bài thơ, trong đó Thanh Thảo tập trung miêu tả hình ảnh Lor- ca trong cái chết bi tráng.

II. Thân bài
1. Bốn câu đầu tạo ra hai cảnh tương phản,miêu tả cái chết đến quá bất ngờ với Lor- ca, thể hiện nỗi đau xót kinh hoàng của những người dân Tây Ban Nha và nhân loại yêu hoà bình, dân chủ:
Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
2. Sau chi tiết đặc tả về chiếc áo choàng đỏ máu, cảnh hành hình Lor-ca tiếp tục được miêu tả qua hai dòng thơ trong đó có sự kết hợp giữa cái cụ thể của sự thật tàn nhẫn với cảm giác bồng bềnh, phiêu lãng:
Lor- ca bị điệu về bãi bắn
Chàng đi như người mộng du
3. Sự kiện đau đớn, thảm khốc ấy tiếp tục được diễn tả theo biện pháp tượng trưng, qua nghệ thuật chuyển đổi cảm giác trong 6 câu thơ tiếp theo:
tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nứơc vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy

III. Kết luận
- Đoạn thơ tạo ra rất nhiều đối lập: đối lập giữa khát vọng tự do của người nghệ sĩ và chế độ phát xít bạo tàn; giữa tiếng hát vô tư, trẻ trung yêu đời với hiện thực phũ phàng, đẫm máu; giữa cái đẹp thánh thiện, cao cả của nghệ thuật và tình yêu với cái xấu, cái ác của những thế lực bạo tàn đen tối, giữa khát vọng sống và niềm yêu sự sống với cái chết oan trái, phi lí, phi tự nhiên... Những đối lập ấy được bộc lộ qua các hình ảnh tượng trưng, ước lệ, qua phép tỉnh lược gián cách đầy ấn tượng, qua phép chuyển nghĩa tài hoa, qua chất nhạc, chất họa dồi dào trong ngôn từ…
- Từ đó, Thanh Thảo đã xây dựng hình tượng Lor-ca với vẻ đẹp bi tráng, thể hiện sự đồng cảm và tri âm, sự ngưỡng mộ và yêu mến, niềm kính trọng và tiếc thương sâu sắc với cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của người nghệ sĩ tài hoa, nhà cách tân kiên cường, người chiến sĩ dũng cảm, người con ưu tú của đất nước Tây Ban Nha./.

Hocmai.vn

Đàn ghita của Lor-ca – Thanh Thảo

Đàn ghita của Lor-ca – Thanh Thảo


A. Khái quát

1. Tác giả:
- Thanh Thảo là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, Thanh Thảo đã được dư luận chú ý từ những tập thơ và trường ca mang diện mạo độc đáo viết về chiến tranh và thời hậu chiến như Những người đi tới biển-1977, Dấu chân qua trảng cỏ- 1978, Khối vuông ru- bích-1985...
- Thơ Thanh Thảo là tiếng nói của người trí thức luôn trăn trở, suy tư về các vấn đề xã hội và thời đại; luôn có cảm hứng đặc biệt với những nhân cách lớn lao, cao quí, những nghệ sĩ vĩ đại, những người anh hùng... Những trăn trở, suy tư ấy đã tìm đến sự thể hiện trong các bài thơ mang xu hướng cách tân thơ Việt về cả nội dung và hình thức biểu đạt.

2. Tác phẩm
2.1. Bài thơ Đàn ghi ta của Lor- ca rút trong tập Khối vuông ru- bích (1985). Đây là một sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ của Thanh Thảo: giàu suy tư, cảm xúc mãnh liệt, phóng túng và nhuốm màu sắc siêu thực, tượng trưng được học tập từ chính phong cách thơ hiện đại của Lor- ca.
2.2. Federicô Garcia Lor - ca (1898-1936): là một tài năng lớn của văn học nghệ thuật hiện đại Tây Ban Nha với khả năng thiên bẩm ở nhiều lĩnh vực: thơ ca, hội họa, âm nhạc, sân khấu... ; Lor- ca không chỉ là một nghệ sĩ, một nhà văn hóa vĩ đại với những đóng góp lớn lao cho nền nghệ thuật Tây Ban Nha và công cuộc cách tân nền nghệ thuật già cỗi ấy mà còn là một chiến sĩ kiên cường chống lại chế độ độc tài thân phát xít Phrăng- cô, cuối cùng đã anh dũng hi sinh trong cuộc chiến đấu đó.
2.3. Chủ nghĩa siêu thực và Chủ nghĩa tượng trưng trong thơ

B. Tìm hiểu tác phẩm

Đề 1 Phân tích 6 câu thơ đầu bài thơ Đàn ghi ta của Lor- ca của Thanh Thảo.

I.Mở bài:
- Thanh Thảo là một trong số những nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, Thanh Thảo đã được dư luận chú ý từ những tập thơ và trường ca mang diện mạo độc đáo viết về chiến tranh và thời hậu chiến như Những người đi tới biển-1977, Dấu chân qua trảng cỏ- 1978, Khối vuông ru-bích-1985...
- Thơ Thanh Thảo là tiếng nói của người trí thức nhiều trăn trở, suy tư về các vấn đề xã hội và thời đại. Những trăn trở, suy tư ấy đã tìm đến sự thể hiện trong những bài thơ thể hiện xu hướng cách tân thơ Việt trong cả nội dung và hình thức biểu đạt.
- Bài thơ Đàn ghi ta của Lor- ca rút trong tập Khối vuông ru- bích (1985). Đây là một sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ của Thanh Thảo: giàu suy tư, cảm xúc mãnh liệt, phóng túng và nhuốm màu sắc siêu thực, tượng trưng được học tập từ chính phong cách thơ hiện đại của Lor- ca.
- Đoạn thơ bình giảng là 6 câu đầu của bài thơ, trong đó Thanh Thảo đã thể hiện hình ảnh Lor- ca, con người tự do và cô đơn, người nghệ sĩ cách tân dũng cảm, người chiến sĩ kiên cường trong khung cảnhchính trị và nghệ thuật TBN đầu TK XX.

II. Thân bài
1. Câu thơ đầu tiên là hình ảnh người nghệ sĩ Lor- ca với hai biểu tượng tiếng đàn và bọt nước được đặt cạnh nhau theo quan hệ chính phụ trong đó danh từ bọt nước đã được tính từ hóa để làm rõ nghĩa cho tiếng đàn:
Những tiếng đàn bọt nước.
Tiếng đàn bọt nước gợi đồng thời cả những ám ảnh cô đơn và niềm khát khao hướng tới thế giới lãng du mênh mông, phóng khoáng, tự do...
Tiếng đàn bọt nước cũng là biểu tượng cho bi kịch của người nghệ sĩ bất hạnh trong nỗi xót xa, thương tiếc của những người yêu mến, kính trọng ông.
2. Bức tranh ấn tượng về người nghệ sĩ vĩ đại tiếp tục được vẽ bằng gam màu ấn tượng của tấm áo choàng đỏ gắt, tấm áo quen thuộc với những đấu trường Tây Ban Nha, tấm áo biểu trưng cho nét văn hóa đặc sắc của đất nước Tây Ban Nha.
- Hình ảnh đất nước Tây Ban Nha những năm đầu TK XX hiện ra như một đấu trường khốc liệt.
- Hình ảnh người chiến sĩ vĩ đại của đất nước Tây Ban Nha
3. Cuộc quyết đấu của Lor-ca được đặt trên nền âm thanh của tiếng đàn bọt nước... li-la li-la li-la.
4. Ba câu thơ sau vẫn là hình ảnh Lor-ca trong một cuộc hành trình giữa một không gian mênh mang và thời gian thăm thẳm:
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn

III. Kết luận:
Đoạn thơ vừa là những nét chấm phá chịu ảnh hưởng khá rõ của trường phái ấn tượng trong hội họa với những màu sắc, đường nét, mảng khối..., vừa gợi những giai điệu âm thanh của tiếng đàn ghi ta da diết, qua đó làm hiện lên dù chỉ là những nét gián đoạn trong hình dung của độc giả về hình ảnh người công dân yêu tự do Lor- ca chiến đấu ngoan cường cho khát vọng dân chủ và người nghệ sĩ Lor-ca vừa mê đắm trong những khát khao sáng tạo, vừa dũng cảm, đơn độc trong công cuộc cách tân đối với nền nghệ thuật già nua Tây Ban Nha.

Hocmai.vn

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Phân tích 4 khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh

Phân tích 4 khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh


I. Mở bài
- Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ thời kì kháng chiến chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, giàu đức hi sinh và lòng vị tha. Trong thơ Xuân Quỳnh, khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt luôn gắn liền với những dự cảm lo âu.
- Sóng là một trong những bài thơ thành công nhất về đề tài tình yêu, cũng là một trong số những bài thơ thể hiện chân thực, tinh tế vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ luôn khao khát được yêu thương gắn bó, một trái tim luôn trăn trở lo âu, luôn mong được hi sinh, dâng hiến cho tình yêu. Bài thơ được viết năm 1967, in trong tập Hoa dọc chiến hào 1968.
- Đoạn thơ bình giảng là 4 khổ đầu của bài thơ, trong đó, nhân vật trữ tình soi vào sóng để tự nhận thức những đặc tính, những phẩm chất, những trạng thái tâm lí bí ẩn, riêng tư, đầy nữ tính của một trái tim phụ nữ
đang say đắm trong tình yêu.

II. Thân bài
1. Khổ 1: Những câu thơ trong khổ đầu miêu tả sóng vừa chân thực, cụ thể, vừa tiềm tàng những nét nghĩa ẩn dụ gợi sự liên tưởng sâu xa, tinh tế tới tình yêu của người phụ nữ.
1.1. Những trạng thái thất thường của sóng đã gợi liên tưởng thật tự nhiên đến trái tim người con gái khi yêu, bởi cũng như sóng, trái tim vốn rất nhạy cảm, rất dễ bị tổn thương của người con gái luôn bao hàm những trạng thái tâm lí đầy mâu thuẫn, phức tạp, thất thường với những vui buồn, nhớ nhung, mong ngóng, giận dỗi.
1.2. Tới hai câu sau, sóng được đặt trong mối quan hệ với sông và bể với nhiều nét nghĩa, tuy nhiên, dù hiểu theo nghĩa nào, bản chất của tình yêu đều mang những nét tương đồng với sóng, đó là đều khao khát vươn tới sự mạnh mẽ, lớn lao, phóng khoáng, cao cả không cùng.
3. Khổ 2:
Cũng như những con sóng muôn đời dào dạt, sôi nổi trong lòng biển, tình yêu là khát vọng vĩnh hằng của con
người, và mãnh liệt nhất là của tuổi trẻ.
4. Khổ 3,4:
Tình yêu bí ẩn và kì lạ, tình yêu lớn lao hơn mọi thứ lí trí trên đời; tình yêu hồn nhiên, giản dị mà mãnh liệt, như sóng như gió, như thiên nhiên muôn đời bí ẩn, như một lẽ tự nhiên huyền diệu của đất trời.

III. Kết luận
Thông qua những ẩn dụ, hoán dụ, những phép điệp tạo sự xao xuyến cho âm hưởng thơ, đoạn thơ đã thể hiện chân thực những sắc thái phong phú, phức tạp mà quyến rũ của tình yêu, diễn tả sâu sắc, tinh tế nhịp đập của trái tim đang bồi hồi rạo rực và trăn trở, những trạng thái tâm lí với những nét riêng đầy nữ tính trong tình yêu của người phụ nữ. Thể thơ 5 chữ với những dòng thơ thường không ngắt nhịp, sự đắp đổi các thanh bằng trắc ở cuối mỗi câu thơ, khổ thơ, những từ ngữ trùng điệp, những cặp từ sóng đôi hô ứng xô đuổi nhau đã tạo nên âm hưởng dào dạt nhịpnhàng, gợi nhịp điệu những con sóng miên man, bất tận, vô hạn vô hồi, khi ào ạt trào dâng, lúc dịu êm, đằm lắng. Đó cũng đồng thời là nhịp điệu những con sóng lòng, những đợt sóng của đam mê khao khát và da diết yêu thương đang cuộn trào trong trái tim người phụ nữ- những con sóng làm nên sức mạnh và vẻ đẹp đắm say cho tâm hồn người phụ nữ đang yêu.

Hocmai.vn

Sóng - Xuân Quỳnh

Khái quát tác phẩm Sóng - Xuân Quỳnh


1. Tác giả (1942-1988)
- Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ thời kì kháng chiến chống Mĩ. Thơ tình yêu là một mảng đặc sắc và rất tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Quỳnh - một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, giàu đức hi sinh và lòng vị tha. Trong thơ Xuân Quỳnh, khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt luôn gắn liền với những dự cảm lo âu, những mong manh, bất ổn...

2. Tác phẩm
2.1. Xuất xứ, vị trí:
Sóng là một trong những bài thơ thành công nhất của Xuân Quỳnh về đề tài tình yêu, được viết năm 1967, in trong tập Hoa dọc chiến hào 1968. Bài thơ thể hiện chân thực, tinh tế vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ luôn khao khát được yêu thương gắn bó, một trái tim luôn trăn trở lo âu, một tấm lòng luôn mong được hi sinh, dâng hiến cho tình yêu.

2.2. Kết cấu hình tượng:
Bài thơ là sự vận động và phát triển song hành của hai hình tượng : sóng và em.
* Em là cái tôi trữ tình của nhà thơ, là hình tượng được miêu tả trong những cung bậc khác nhau của tình yêu.
Sóng là hình tượng nghệ thuật được Xuân Quỳnh sáng tạo để diễn tả những cảm xúc, tâm trạng, những sắc thái tình cảm vừa phong phú vừa phức tạp của một trái tim phụ nữ đang rạo rực, khao khát yêu thương. Sóng chính là hình ảnh ẩn dụ cho trái tim người phụ nữ đang yêu, là sự hóa thân, phân thân của em.
* Hai hình tượng ấy khi phân đôi để soi chiếu sự tương đồng, khi hoà nhập để âm vang, cộng hưởng. Trái tim người phụ nữ đang yêu soi vào sóng để nhận ra mình, thông qua sóng để thể hiện những rung động, đam mê, khao khát...Hai hình tượng này đan cài, quấn quít với nhau từ đầu tới cuối bài thơ, soi sáng cho nhau nhằm diễn tả sâu sắc, thấm thía những khát vọng tình yêu trào dâng mãnh liệt trong lòng người phụ nữ.
* Với hình tượng sóng, bài thơ làm hiện lên hình ảnh người phụ nữ đứng trước đại dương, mang tâm thế của một cá thể đối diện với cái vô biên và vĩnh hằng, từ đó mà liên tưởng, suy tư, chiêm nghiệm về những khát vọng cũng vô biên, vĩnh hằng của con người trong tình yêu như một nhu cầu tự nhận thức, tự khám phá cái tôi bản thể trong tình yêu. Cảm xúc thơ vì thế vừa sôi nổi, mãnh liệt, vừa có chiều sâu triết lí.

2.3. Hình tượng sóng được gợi ra ngay trong âm hưởng của bài thơ. Thể thơ 5 chữ với những dòng thơ thường không ngắt nhịp, sự đắp đổi tuần hoàn các thanh bằng trắc ở cuối mỗi câu thơ, khổ thơ, những từ ngữ trùng điệp, những hình tượng ngôn từ sóng đôi hô ứng xô đuổi từ đầu tới cuối bài đã tạo nên âm hưởng dào dạt nhịp nhàng, gợi hình ảnh những con sóng miên man, bất tận, vô hạn vô hồi, khi ào ạt trào dâng, lúc dịu êm, đằm lắng. Đó cũng đồng thời là nhịp điệu những con sóng lòng, những đợt sóng của đam mê khao khát và da diết yêu thương đang cuộn trào trong trái tim người phụ nữ - những con sóng làm nên sức mạnh và vẻ đẹp đắm say cho tâm hồn người phụ nữ đang yêu.

Hocmai.vn

Phân tích phần 2 đoạn trích Đất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm

Đề 2: Phân tích phần 2 đoạn trích Đất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm để làm sáng tỏ tư tưởng chủ đạo: Đất Nước của nhân dân.


I. Mở bài
- Nguyễn Khoa Điềm là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong
cuộc kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, thể hiện tâm tư, ý thức của một công dân yêu nước về vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong cuộc chiến đấu chung của cả dân tộc, thể hiện những nhận thứcsâu sắc về nhân dân, đất nước qua những trải nghiệm của chính mình.
- Đoạn trích mang tên Đất Nước thuộc phần đầu chương V, trường ca Mặt đường khát vọng được Nguyễn Khoa Điềm viết ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971, in lần đầu 1974. Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị bị tạm chiếm miền Nam, mở rộng ra là sự tự ý thức của tuổi trẻ Việt Nam, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
- Đoạn thơ được bình giảng thuộc phần đầu của đoạn trích Đất Nước, góp phần lí giải một trong những bình diện đầu tiên của tư tưởng Đất Nước của nhân dân, đó là quan niệm: Đất Nước hoà quyện gắn bó sâu sắc trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân, Đất Nước làm nên cuộc sống nhân dân, mỗi cá nhân phải có trách nhiệm đối với Đất Nước.
- Đoạn thơ được bình giảng thuộc phần cuối của đoạn trích, trong đó, cảm nhận về Đất Nước được mở ra theo các bình diện của không gian địa lí, thời gian lịch sử, chiều sâu văn hóa và tâm hồn dân tộc. Tất cả các bình diện đó đều được soi chiếu từ một tư tưởng nhất quán: Đất Nước của nhân dân, chính nhân dân đã làm nên Đất Nước.

II. Thân bài
1. Đoạn từ câu 43-54: Những cách cảm nhận mới mẻ, những phát hiện độc đáo về không gian địa lí của Đất Nước trong mối quan hệ với nhân dân.
a. Những chất liệu văn hóa dân gian:
- Đoạn thơ quan sát không gian địa lí của Đất Nước qua các di tích văn hóa, lịch sử như Đền Hùng, Núi Vọng Phu…các địa danh như làng Gióng, sông Cửu Long…, những thắng cảnh như Hòn Trống Mái, núi Bút non Nghiên…hoặc đơn giản chỉ là những ruộng đồng gò bãi, núi sông…trên khắp mọi miền Tổ quốc…
- Điều đáng nói là tất cả những không gian địa lí đều hiện ra qua một câu chuyện ngày xửa ngày xưa nào đó của văn hóa dân gian.
- Chọn từ những chất liệu nghệ thuật tiêu biểu của văn hóa dân gian, Nguyễn Khoa Điềm giúp người đọc cảm nhận xúc động và thấm thía những nỗi đau trong cuộc đời, thân phận, những vẻ đẹp trong tâm hồn, tính cách người Việt.
Trí tuệ dân gian đã dùng hình thức hư cấu huyền ảo của nghệ thuật để lí giải những hình hài sông núi hiện hữu trong không gian Đất Nước, đồng thời phản ánh những nỗi đau, những vẻ đẹp có thật trong cuộc sống nhân dân.
b. Đoạn thơ bắt đầu từ những huyền thoại của văn hóa dân gian nhưng lại bay bổng trên thế giới ấy nhờ cái nhìn mới mẻ, độc đáo của phương thức tư duy hiện đại.
- Ý nghĩa của các cụm động từ góp cho Đất Nước...góp nên...góp mình dựng đất...góp dòng sông...góp cho Hạ Long...góp tên...
- Chủ thể của những sự đóng góp ấy là những người vợ nhớ chồng, là cặp vợ chồng yêu nhau, là người học trò nghèo, là những người dân nào...tất cả đều vô danh, đó chính là nhân dân, qua năm tháng, lặng lẽ, bền bỉ, kiên cường, đã tạo dựng nên Đất Nước, đã đặt tên, in dấu sâu đậm trên dáng hình của quê hương xứ sở.
- Cách nhìn vừa mới mẻ vừa mang đậm sắc thái dân gian đã giúp nhà thơ khẳng định và ca ngợi công lao của nhân dân đối với Đất Nước.
Tư tưởng Đất Nước của nhân dân đã được thể hiện trước hết ở bình diện không gian, khi chính nhân dân, lớn lao và thầm lặng, bằng tình yêu và nỗi đau, bằng sự dũng cảm hay cần cù nhẫn nại, bằng cách sống và cách nghĩ nhân hậu, thuỷ chung, bằng những ước mơ đẹp đẽ, những khát khao bình dị đã in dấu cuộc đời lên hình sông dáng núi, đã làm nên Đất Nước muôn đời.
2. Đoạn từ câu 55-90: Những suy ngẫm của nhà thơ về thời gian lịch sử của Đất Nước trong mối quan hệ với cuộc sống nhân dân.
- Sau những phát hiện mới mẻ và độc đáo về sự đóng góp của nhân dân để làm nên những không gian hữu hình của Đất Nước, nhân vật trữ tình lại cất tiếng gọi thiết tha tới người con gái yêu thương, cùng nhau hướng cái nhìn suy tư và hoài niệm vào dòng chảy xa xăm, sâu thẳm, vô hình của bốn nghìn năm Đất Nước, nhìn để quan sát và chiêm nghiệm về công sức của nhân dân với sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
- Tiếp theo, Nguyễn Khoa Điềm đề cập đến cách sống, cách nghĩ và khẳng định công lao của nhân dân trong bốn câu thơ đặc biệt hàm súc:
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước
- Sau bốn câu thơ khái quát công lao của nhân dân, lực lượng đông đảo nhất, vĩ đại nhất và cũng thầm lặng nhất suốt bốn nghìn năm qua kiên cường bền bỉ tạo dựng, giữ gìn, làm ra Đất Nước, đoạn thơ nối tiếp đã đề cập cụ thể hơn công lao to lớn của nhân dân với Đất Nước trong sự tôn vinh và lòng ngưỡng mộ.
a. Trước hết là công lao trong sự nghiệp dựng nước, trong việc sáng tạo, bảo vệ, duy trì từ của cải vật chất đến những giá trị tinh thần:
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
b. Khi Đất Nước có chiến tranh, nhân dân lại là những người xông pha nơi hòn tên mũi đạn, dũng cảm chiến đấu, sẵn sang hi sinh để bảo vệ sự bình yên cho Đất Nước:
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
c. Mạch cảm xúc, suy ngẫm của bài thơ cứ dồn tụ dần để dẫn tới cao trào trong đoạn cuối, làm bật lên tư tưởng cốt lõi “Đất Nước của nhân dân”

III. Kết luận
- Tư tưởng Đất Nước của nhân dân đã manh nha từ xa xưa trong lịch sử với quan niệm dân vi bản, khi Nguyễn Trãi khẳng định Làm lật thuyền mới biết sức dân như nước; khi Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi những người nông dân nghĩa sĩ cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó mà cao cả, anh hùng...Tư tưởng ấy được khẳng định và nhận thức sâu sắc hơn trong thời đánh Mĩ khi được soi chiếu bằng quan điểm mác xít về nhân dân và thực tiễn của cuộc chiến tranh nhân dân.
- Tư tưởng Đất Nước của nhân dân không chỉ được khẳng định ở bình diện nội dung mà còn được thể hiện ngay trong yếu tố hình thức của đoạn thơ, trong một không gian nghệ thuật thấm đẫm phong vị dân gian ngay trong những câu thơ trí tuệ và hiện đại. Ca ngợi nhân dân bằng chính những sản phẩm trí tuệ của nhân dân, bằng những sáng tác phản ánh tâm hồn, tính cách và số phận nhân dân, Nguyễn Khoa Điềm đã có một lựa chọn độc đáo khiến tư tưởng Đất Nước của nhân dân được thể hiện sâu sắc và đầy sức thuyết phục.
- Tóm lại, đoạn thơ đã cảm nhận, phát hiện về Đất Nước trong cái nhìn tổng hợp, toàn vẹn, mang đậm tư tưởng nhân dân, đã sử dụng phong phú các yếu tố của văn hóa, văn học dân gian một cách sáng tạo, hòa nhập trong cách diễn đạt và tư duy hiện đại, đem đến màu sắc thẩm mĩ vừa quen thuộc, vừa mới mẻ, phù hợp với tư tưởng cốt lõi của tác phẩm, cũng là tư tưởng bao trùm trong văn học 1945-1975: tư tưởng Đất Nước của nhân dân.

Hocmai.vn

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm

Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm



A. Khái quát.
1. Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông giàu chất suy tư, xúc cảm lắng đọng, thể hiện tâm tư, ý thức của một công dân yêu nước đối với vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc chiến đấu chung của cả dân tộc, thể hiện những nhận thức sâu sắc về nhân dân, đất nước qua những trải nghiệm của chính mình.
2. Tác phẩm
2.1.Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác:
- Đoạn trích thuộc phần đầu chương V có tên Đất Nước của trường ca Mặt đường khát vọng được Nguyễn Khoa Điềm viết ở chiến khu Trị – Thiên năm 1971, in lần đầu 1974.
- Đây là giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cũng là giai đoạn ác liệt nhất đòi hỏi sức mạnh tổng lực cho chiến thắng trong đó lực lượng giữ vai trò đặc biệt quan trọng là thế hệ trẻ.
- Bản trường ca kết cấu theo quá trình vận động ý thức của tuổi trẻ các thành thị bị tạm chiếm miền Nam thức tỉnh trước hiện tại Đất Nước, nhận rõ kẻ thù, ý thức sâu sắc về nhân dân, đất nước và trách nhiệm của thế hệ mình, tự nguyện đứng lên tham gia vào cuộc chiến đấu chung của cả dân tộc.
2.2.Tư tưởng chủ đạo: của đoạn thơ là Đất Nước của Nhân Dân. Tư tưởng ấy được thể hiện ở hai chiều:
- Đất Nước làm nên cuộc sống Nhân Dân, Đất Nước hoà quyện gắn bó sâu sắc trong cuộc sống hàng ngày của Nhân Dân.
- Nhân Dân với những đóng góp hi sinh lớn lao trong công cuộc dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm qua đã làm nên Đất Nước muôn đời.

B. Tìm hiểu tác phẩm

Đề 1 . Phân tích đoạn thơ đầu đoạn trích Đất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng của
Nguyễn Khoa Điềm( Từ đầu đến…muôn đời”)

I. Mở bài
- Nguyễn Khoa Điềm là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, thể hiện tâm tư, ý thức của một công dân yêu nước về vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong cuộc chiến đấu chung của cả dân tộc, thể hiện những nhận thức sâu sắc về nhân dân, đất nước qua những trải nghiệm của chính mình.
- Đoạn trích mang tên Đất Nước thuộc phần đầu chương V, trường ca Mặt đường khát vọng được Nguyễn Khoa Điềm viết ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971, in lần đầu 1974. Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị bị tạm chiếm miền Nam, mở rộng ra là sự tự ý thức của tuổi trẻ Việt Nam, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
- Đoạn thơ được bình giảng thuộc phần đầu của đoạn trích ĐN, góp phần lí giải một trong những bình diện đầu tiên của tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân, đó là quan niệm: Đất Nước hoà quyện gắn bó sâu sắc trong cuộc sống hàng ngày của Nhân Dân, Đất Nước làm nên cuộc sống Nhân Dân, mỗi cá nhân phải có trách nhiệm đối với Đất Nước.

II. Thân bài
1. Những cảm nhận sâu sắc về Đất Nước trong mối quan hệ gắn bó với cuộc sống Nhân Dân.
1.1. Đất Nước được hiểu là nơi cư trú của một cộng đồng dân tộc có cương giới, lãnh thổ riêng, có sự gắn kết sâu sắc với nhau về văn hóa, phong tục, tập quán, có tiếng nói, ngôn ngữ riêng, có truyền thống lịch sử, văn hiến lâu đời.
1.2. Tùy theo từng thời kì lịch sử, Đất Nước được định nghĩa theo những cách quan niệm khác nhau.
1.3. Trong đoạn đầu, với giọng điệu suy tư hướng tới trả lời 2 câu hỏi: Đất Nước có từ bao giờ? Đất Nước ở đâu?, Nguyễn Khoa Điềm đã đưa đến một cách cảm nhận vừa mới mẻ, vừa thấm thía xúc động về Đất Nước trong mối quan hệ với cuộc sống Nhân Dân, trong đó, những khái niệm trừu tượng, những tiêu chí thiêng liêng định hình nên Đất Nước đã được nhà thơ thể hiện qua những hình ảnh cụ thể và bình dị, quen thuộc và gợi cảm.
Những cảm nhận có vẻ như tản mạn, tùy hứng của cuộc trò chuyện tâm tình, qua những hình ảnh gợi nhắc tới tục ngữ, ca dao, thần thoại, cổ tích... nhà thơ đã đưa người đọc dần đến một nhận thức giản dị mà sâu sắc thấm thía: Đất Nước có một lịch sử lâu đời, Đất Nước không hề xa lạ hay trừu tượng, Đất Nước là những gì gần gũi, thân yêu vô cùng luôn hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày của Nhân Dân, Đất Nước làm nên vóc dáng hình hài, làm nên tâm hồn, cốt cách, làm nên lối sống, lối nghĩ của mỗi con người, Đất Nước làm nên cuộc sống Nhân Dân.
2. Bên cạnh những cảm nhận sâu sắc về Đất Nước trong mối quan hệ gắn bó với cuộc sống Nhân Dân, nhà thơ còn đặt Đất Nước trong cái nhìn toàn vẹn, tổng hợp, nhiều chiều, nhiều phương diện để có thể trả lời thấu đáo câu hỏi: Đất Nước là gì?
2.1. Trước hết, Đất Nước được đặt trong chiều dài miên viễn của thời gian lịch sử
2.2. Không tách rời khỏi thời gian, Đất Nước đồng thời được đặt trong chiều rộng mênh mông của không gian địa lí
2.3. Trên chiều rộng của không gian địa lí, chiều dài của thời gian lịch sử . Đất Nước được cảm nhận như sự thống nhất của các phương diện văn hóa, truyền thống, phong tục, đạo lí,...
Cần cù trong lao động dựng nước, dũng cảm kiên cường trong những cuộc chiến tranh giữ nước, nhân hậu nghĩa tình trong ứng xử của cuộc sống hàng ngày…đó là chiều sâu văn hóa tạo nên nền tảng vững chắc cho một Đất Nước.
3. Trong đoạn 1, Đất Nước xuất hiện trong những gì gần gũi bình dị nhất của cuộc sống hàng ngày, rồi mở rộng ra trong nhiều chiều của thời gian, không gian, lịch sử và địa lí; cuối cùng, cảm nhận về Đất Nước trở lại với những phát hiện về sự hiện hữu của Đất Nước trong mỗi con người để từ đó nhắc nhở trách nhiệm của mỗi con người với Đất Nước.
3.1. Đất Nước có trong mỗi con người
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
3.2. Quan hệ giữa Đất Nước với mỗi cá nhân: còn được biểu hiện qua hai hình ảnh thật sâu sắc:
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn
3.3.Trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng:
3.4. Viễn cảnh của Đất Nước:
Hình hài Đất Nước, sự phát triển phồn thịnh của Đất Nước trong tương lai, vị trí, tầm vóc của Đất Nước trên trường quốc tế...đã được nhà thơ thể hiện trong một ẩn dụ đẹp đẽ và lãng mạn:
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng

III. Kết luận
- Đoạn trích đã thể hiện đậm nét phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm: sự kết hợp chính luận và trữ tình, suy tưởng và cảm xúc…Chất chính luận hiện ra trong hệ thống lập luận dẫn đến trả lời các câu hỏi: Đất Nước có từ bao giờ? Đất Nước ở đâu? Đất Nước là gì? Những lập luận sâu sắc và thấm thía khi được thể hiện trong những vần thơ thấm đượm cảm xúc, trong cái nhìn trân trọng yêu quí với mỗi hình ảnh về Nhân Dân, Đất Nước. Suy tưởng cũng là nét đặc sắc của đoạn thơ; nhờ suy tưởng mà nhà thơ đã phát hiện ra những ý nghĩa mới mẻ, sâu xa từ những điều quen thuộc, bình dị trong cuộc sống hàng ngày của Nhân Dân.
- Đoạn thơ đã cảm nhận, và phát hiện về Đất Nước trong cái nhìn tổng hợp, toàn vẹn, nhiều chiều, nhiều phương diện mang đậm tư tưởng Nhân Dân, sử dụng phong phú các yếu tố của văn hóa, văn học dân gian một cách sáng tạo, hòa nhập trong cách diễn đạt và tư duy hiện đại, mang đến cho hình tượng thơ màu sắc thẩm mĩ vừa quen thuộc, vừa mới mẻ, dẫn đến nhận thức: Đất Nước không ở đâu xa, Đất  Nước là những gì bình dị, thân yêu trong cuộc sống hàng ngày; Đất Nước ở trong ta với tâm hồn cốt cách, Đất Nước ở ngoài ta với những nuôi nấng, dạy dỗ, chở che; Đất Nước hình thành và phát triển qua cuộc chạy tiếp sức lớn lao, vĩ đại, vĩnh hằng của các thế hệ người Việt dựng nước và giữ nước; Đất Nước cũng là nơi những người Việt Nam sinh ra, lớn lên, “yêu nhau và sinh con đẻ cái”, lao động dựng xây và chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc thân yêu. Những nhận thức ấy đã góp phần thể hiện tư tưởng chủ đạp của tác phẩm: tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân./.

Hocmai.vn

Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên

Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên


A. Khái quát chung

1. Chế Lan Viên (1920-1989) là nhà thơ lớn của thi ca hiện đại Việt Nam. Thơ Chế Lan Viên có phong cách riêng độc đáo và sắc nét, đó là chất trí tuệ và sự tài hoa trong những suy tưởng, triết luận sâu sắc cùng thế giới hình ảnh đa dạng, tinh tế và gợi cảm.

2. Tác phẩm
2.1.Bài thơ Tiếng hát con tàu rút từ tập Ánh sáng và phù sa, tập thơ đánh dấu sự trưởng thành vững chắc của Chế Lan Viên trên hành trình thơ cách mạng. Cũng như cả tập thơ, bài thơ Tiếng hát con tàu đã thể hiện sự gặp gỡ kì diệu giữa cảm hứng về sự hồi sinh của đất nước sau chiến tranh với cảm hứng về sự hồi sinh của chính tâm hồn nhà thơ, đó cũng là ngọn nguồn cho lòng biết ơn và sự gắn bó sâu sắc của Chế Lan Viên với cuộc đời, nhân dân, đất nước.

2.2. Bài thơ Tiếng hát con tàu được gợi cảm hứng từ một sự kiện kinh tế - xã hội ở miền Bắc những năm 1958-1960. Đó là phong trào vận động nhân dân miền xuôi lên xây dựng kinh tế ở miền núi Tây Bắc. Theo tiếng gọi của Đảng, nhiều văn nghệ sĩ cũng đi thâm nhập thực tế công cuộc lao động xây dựng đất nước ở nhiều vùng trong đó lên Tây Bắc có Nguyễn Tuân, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Tưởng...v.v...Kết quả của những chuyến đi ấy là những tác phẩm nóng hổi hơi thở của cuộc sống như tập tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân, tập truyện ngắn Mùa lạc của Nguyễn Khải.v.v...Chưa tới được với Tây Bắc thời gian này, Chế Lan Viên đã thể hiện nỗi lòng mình qua bài thơ Tiếng hát con tàu, trong đó, sự kiện thời sự chỉ là điểm xuất phát cho cảm hứng sáng tác để nhà thơ bày tỏ những khát vọng được trở về với nhân dân, đất nước, với những kỉ niệm sâu nặng nghĩa tình trong kháng chiến, và trong tâm thế của một nhà thơ, đó cũng là sự trở về với hiện thực cuộc sống, ngọn nguồn sáng tạo của thi ca.

2.3.. Nhan đề bài thơ, lời đề từ và cảm hứng chủ đạo
a. Biểu tượng cơ bản trong cả bài thơ là con tàu và Tây Bắc.
b. Ý nghĩa của nhan đề bài thơ Tiếng hát con tàu.
c. Lời đề từ là thành phần nằm ngoài văn bản của tác phẩm, nhằm hướng người đọc vào ý đồ nghệ thuật của tác giả hoặc cảm hứng chủ đạo của tác phẩm.
Cùng với nhan đề, bốn câu thơ đề từ đã thể hiện khát vọng mãnh liệt của nhà thơ được đến với với những kỉ niệm sâu nặng nghĩa tình trong kháng chiến, với mảnh đất và con người Tây Bắc, khát vọng đến với nhân dân, đất nước, đó cũng là sự trở về với hiện thực vĩ đại của cuộc sống- ngọn nguồn cảm hứng sáng tạo thi ca.
----------------------------------------

B. Tìm hiểu bài thơ
Đề1: Bình giảng 5 khổ thơ đầu bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên.

I. Mở bài
- Chế Lan Viên (1920-1989) là nhà thơ lớn của thi ca hiện đại Việt Nam. Thơ Chế Lan Viên có phong cách riêng độc đáo và sắc nét, đó là chất trí tuệ và sự tài hoa trong những suy tưởng, triết luận sâu sắc cùng thế giới hình ảnh đa dạng, độc đáo.
- Bài thơ Tiếng hát con tàu rút từ tập Ánh sáng và phù sa, tập thơ đánh dấu sự trưởng thành vững chắc của Chế Lan Viên trên hành trình thơ cách mạng. Cũng như cả tập thơ, bài thơ Tiếng hát con tàu đã thể hiện sự gặp gỡ kì diệu giữa cảm hứng về sự hồi sinh của đất nước sau chiến tranh với cảm hứng về sự hồi sinh của chính tâm hồn nhà thơ, đó cũng là ngọn nguồn cho lòng biết ơn và sự gắn bó sâu sắc của Chế Lan Viên với cuộc đời, nhân dân, đất nước.
- Đoạn thơ phân tích là 5 khổ thơ đầu tiên của bài thơ Tiếng hát con tàu, trong đó, Chế Lan Viên đã thể hiện khát vọng hướng về nhân dân, đất nước, cũng là niềm khao khát được đến với cuộc đời rộng lớn, cội nguồn sáng tạo của thi ca. Khát vọng ấy được thể hiện qua diễn biến tâm trạng của chủ thể trữ tình và sự vận động của hình tượng thơ.

II. Thân bài
1. Hai khổ thơ đầu: là một cuộc tự chất vấn của nhà thơ với chính lòng mình, cũng là sự trăn trở, hối thúc, tự giục giã lên đường
Cả đoạn thơ là nỗi trăn trở day dứt của một tâm hồn khao khát mãnh liệt được hòa nhập với cuộc đời, với nhân dân, đất nước, khao khát những chuyến đi xa tới những chân trời mới lạ để được trở lại với chính mình, để tìm cảm hứng sáng tạo cho thi ca.
2. Hai khổ 3 & 4: Niềm thành kính, biết ơn hướng về Tây Bắc và cuộc kháng chiến.
Đoạn thơ đã bộc lộ niềm thành kính và lòng biết ơn sâu nặng của Chế Lan Viên với miền đất thiêng Tây Bắc và những năm tháng kháng chiến hào hùng, oanh liệt. Đó là mảnh đất, là năm tháng có ý nghĩa sâu sắc với cả dân tộc và đặc biệt là với riêng nhà thơ trong hành trình nghệ thuật của mình. Trưởng thành từ đó, nay thi nhân lại khao khát hướng về nguồn cội, cũng là cách để nhà thơ thể hiện tâm nguyện tha thiết đưa nghệ thuật trở về với cuộc đời, về với nhân dân, đất nước.

3. Khổ 5: Lòng biết ơn sâu sắc, niềm hạnh phúc lớn lao của nhà thơ khi được trở về với nhân dân - khát vọng hướng về nhân dân.
Tất cả những so sánh trong khổ 5 còn cho thấy sự trở về của nhà thơ với nhân dân không chỉ là nhu cầu, là hạnh phúc, niềm vui mà còn là lẽ tự nhiên, tất yếu, hợp qui luật: nai chỉ bình yên nơi suối cũ, cỏ cây chỉ xanh tươi trong mùa xuân...và nhà thơ chỉ thật sự là mình, hồn thơ chỉ được nuôi dưỡng, bồi đắp, tiếp sức trong hiện thực lớn lao, vĩ đại của cuộc sống nhân dân.

III. Kết luận
Với những hình ảnh mang đậm chất trí tuệ, với việc tạo ra một chuỗi so sánh trùng điệp giàu tính tượng trưng, cách sử dụng những đại từ nhân xưng tinh tế, sâu sắc..., đoạn thơ đã khẳng định vai trò lớn lao của nhân dân với cuộc đời và sự nghiệp sáng tác cùng sự biết ơn, niềm hạnh phúc của nhà thơ khi được trở về với nhân dân. Đưa thi ca về với nhân dân, nhà thơ như được hồi sinh, được tự do bay bổng sáng tạo trong bầu trời nghệ thuật trong sáng, phóng khoáng, được thanh thản, bình yên trong chốn cũ an lành. Nhân dân thực sự là Ánh sáng và phù sa, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc, là nơi nuôi dưỡng chở che, là sự tiếp sức khi chồn chân mỏi gối... Đoạn thơ đã thể hiện sinh động và sâu sắc khát vọng hướng về nhân dân, khẳng định mối quan hệ thiêng liêng giữa cá nhân và cộng đồng, giữa nghệ thuật và hiện thực cuộc sống nhân dân.

Đề 2: Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên. (khổ 6, 7,
8, 9, 10)

I. Mở bài
- Chế Lan Viên (1920-1989) là nhà thơ lớn của thi ca hiện đại Việt Nam. Thơ Chế Lan Viên có phong cách riêng độc đáo và sắc nét, đó là chất trí tuệ và sự tài hoa trong những suy tưởng, triết luận sâu sắc cùng thế giới hình ảnh đa dạng, độc đáo.
- Bài thơ Tiếng hát con tàu rút từ tập Ánh sáng và phù sa, tập thơ đánh dấu sự trưởng thành vững chắc của Chế Lan Viên trên hành trình thơ cách mạng. Cũng như cả tập thơ, bài thơ Tiếng hát con tàu đã thể hiện sự gặp gỡ kì diệu giữa cảm hứng về sự hồi sinh của đất nước sau chiến tranh với cảm hứng về sự hồi sinh của chính tâm hồn nhà thơ, đó cũng là ngọn nguồn cho lòng biết ơn và sự gắn bó sâu sắc của Chế Lan Viên với cuộc đời, nhân dân, đất nước.
- Đoạn thơ phân tích là 5 khổ giữa của bài thơ, trong đó, Chế Lan Viên đã thể hiện cảm xúc và suy ngẫm của mình về Tây Bắc và nhân dân Tây Bắc qua những hoài niệm ân tình, từ đó góp phần lí giải cảm hứng chủ đạo của cả bài thơ.

II. Thân bài:
1. Các khổ thơ 6,7,8: Nỗi nhớ da diết của nhà thơ hướng về những kỉ niệm ân tình với nhân dân Tây Bắc trong kháng chiến.
Bằng việc tạo ra những hình ảnh chân thực, xúc động, sử dụng phép đối lập gây ấn tượng mạnh mẽ, cách xưng hô thân thiết, ruột thịt,..., đoạn thơ đã tái hiện những kỉ niệm sâu nặng ân tình giữa nhà thơ với nhân dân Tây Bắc trong kháng chiến, qua đó mà khắc họa những phẩm chất đẹp đẽ của nhân dân, góp phần lí giải cảm hứng chủ đạo của bài thơ: khát vọng hướng về nhân dân.
2. Khổ 9,10: Tình yêu và suy ngẫm hướng về Tây Bắc, về nhân dân
Sau những hoài niệm ân tình, nhà thơ đã bộc lộ tình cảm nhớ thương đằm thắm với cảnh và người Tây Bắc để từ đó, khái quát những qui luật muôn đời trong tình cảm, đúc kết triết lí về sự chuyển hóa kì diệu trong đời sống nội tâm của con người, lí giải thấm thía và thuyết phục khát vọng hướng về nhân dân.

III. Kết luận
Cũng như cả bài thơ Tiếng hát con tàu, đoạn thơ tiếp tục sử dụng thành công thủ pháp trùng điệp trong các điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp và đặc biệt một hệ thống các hình ảnh so sánh, ẩn dụ đặc sắc.
Những hình ảnh giàu sức biểu cảm cùng phép suy tưởng sáng tạo của một ngòi bút tài hoa và trí tuệ đã giúp Chế Lan Viên bộc lộ nỗi nhớ, tình yêu với cảnh và người Tây Bắc, nơi lưu giữ bao kỉ niệm sâu nặng nghĩa tình trong kháng chiến, nơi nhà thơ đã tìm thấy con đường đi chân chính của thi ca, qua đó góp phần thể hiện cảm hứng chủ đạo của bài thơ: cảm hứng hướng về nhân dân, đất nước, hướng về hiện thực vĩ đại của cuộc sống nhân dân, cội nguồn của sáng tạo thi ca.

Hocmai.vn